Sáng tác: Sơn đình liễu - Sơ hạ phong yên (HCH)

 

山亭柳

初夏烽烟

杜宇鬧聲連

紅躑躅

赤炎天

柳綠亂條堪折

水流東去江邊

落葉隨風飄處

唳鶴啼猿

遠方塵垢山河夢

雲披霧鎖故鄉烟

當滄海

忽桑田

九棘三槐雨草

坎坷道路黎元

再度蹉跎歲月

休問何緣

SƠN ĐÌNH LIỄU

Sơ hạ phong yên

Đỗ vũ náo thanh liên

Hồng trịch trục

Xích viêm thiên

Liễu lục loạn điều kham chiết

Thuỷ lưu đông khứ giang biên

Lạc diệp tuỳ phong phiêu xứ

Lệ hạc đề viên

Viễn phương trần cấu sơn hà mộng

Vân phi vụ toả cố hương yên

Đương thương hải

Hốt tang điền

Cửu cức tam hoè vũ thảo

Khảm kha đạo lộ lê nguyên

Tái độ sa đà tuế nguyệt

Hưu vấn hà duyên

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 02/4/2025

Đỗ vũ 杜宇: Một tên gọi khác của chim Đỗ quyên 杜鵑. Ngoài “Đỗ vũ”, “Đỗ quyên” ra, chim Đỗ quyên có nhiều biệt xưng như: “Tử quy” 子规, “Tạ Báo” 谢豹, “Thôi Quy” 催归, “Đỗ phách” 杜魄, “Đỗ Vũ phách” 杜宇魄, “Thục phách” 蜀魄, “Thục vương phách” 蜀王魄, “Thục hồn” 蜀魂, “Thục đế hồn” 蜀帝魂, “Thục Vũ hồn” 蜀宇魂, “Thục quyên” 蜀鵑, “Vọng đế” 望帝

Trịch trục: 躑躅: biệt danh của hoa đỗ quyên.

Hoa đỗ quyên có nhiều biệt danh, đời Đường có 5 tên gọi như sơn thạch lựu 山石榴, sơn lựu 山榴, Sơn Trịch Trục 山踯躅, trịch trục 踯躅, hồng trịch trục 红踯躅.

          Sơn Thạch Lựu nhất danh sơn trịch trục, nhất danh đỗ quyên hoa, đỗ quyên đề thời hoa phốc phốc.

                                          (Bạch Cư Dị - Sơn Thạch Lựu ký Nguyên Cửu)

山石榴一名山踯躅, 一名杜鹃花, 杜鹃啼时花扑扑

                                                 (白居易 - 山石榴寄元九)

          (Sơn thạch lựu còn có tên là sơn trịch trục, một tên khác là đỗ quyên, khi chim đỗ quyên kêu, hoa trổ rực rỡ)

Ngũ Độ khê đầu trịch trục hồng.

                                          (Trương Tịch – Ký Lý Bột)

五度溪头踯躅红

                             (张籍 - 寄李渤)

(Nơi đầu khe Ngũ Độ hoa trịch trục nở hồng)

(“Hoa dữ văn học” 花与文学: Giả Tổ Chương 贾祖璋. Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 2001)

Trịch trục 躑躅 / 踯躅: Lẩn quẩn, đi tới đi lui.

Trong quyển Bản thảo kinh tập chú 本草经集注 Đào Hoành Cảnh 陶宏景 đã viết:

          Dương Trịch Trục (tức hoàng đỗ quyên), dương thực kỳ diệp, trịch trục nhi tử.

羊踯躅 (即黄杜鹃), 羊食其叶, 踯躅而死

          (Dương trịch trục (tức đỗ quyên vàng), dê ăn phải lá của nó, chân lẩn quẩn đi không được mà chết)

          Truyền thuyết hoa Đỗ quyên

Truyền thuyết kể rằng ngày xưa ở nước Thục có một vị vua tên là Đỗ Vũ 杜宇 rất yêu thương hoàng hậu. Sau vua bị gian thần hãm hại chết oan ức hồn hoá thành chim Đỗ quyên, hàng ngày cất lên những tiếng kêu ai oán trong vườn hoa của hoàng hậu. Nước mắt rơi xuống là từng giọt máu tươi, nhuốm đỏ các cánh hoa xinh đẹp, cho nên người đời sau gọi đó là hoa Đỗ quyên.

          Hoàng hậu nghe được tiếng kêu ai oán của chim Đỗ quyên, thấy được máu tươi rỏ xuống mới biết đó là linh hồn của chồng mình hoá thành. Do quá đau buồn, ngày đêm gào lên: “tử quy, tử quy” nên cuối cùng cũng qua đời, linh hồn của bà hoá thành loài hoa Đỗ quyên đỏ như lửa nở đầy khắp núi đồi. Hoa Đỗ quyên cùng chim Đỗ quyên luôn gần nhau cho nên hoa Đỗ quyên cũng còn được gọi là Ánh sơn hồng. Đây chính là điển cố “Đỗ quyên đề huyết” 杜鵑啼血 (Đỗ quyên kêu rỏ máu), “Tử quy ai minh” 子規哀鳴 (chim Tử quy kêu ai oán). Lí Bạch ở bài Tuyên Thành kiến Đỗ quyên hoa 宣城見杜鵑花 (có thuyết cho là của Đỗ Phủ) viết rằng:

Thục quốc tằng văn Tử quy điểu,

 Tuyên thành hoàn kiến Đỗ quyên hoa

Nhất khiếu nhất hồi trường nhất đoạn

Tam xuân tam nguyệt ức Tam Ba

蜀国曾闻子规鸟

宣城还见杜鹃花

一嘯一回腸一斷

三春三月憶三巴

(Nơi nước Thục từng nghe tiếng chim Tử quy,

Nay ở Tuyên thành lại thấy hoa Đỗ quyên

Nghe chim kêu từng tiếng mà đứt từng đoạn ruột

Ba xuân ba tháng nhớ mãi đến Tam Ba)

Tam Ba tức Ba quận 巴郡, Ba Đông 巴東, Ba Tây 巴西, chỉ nước Thục, nay là Tứ Xuyên.

Viêm thiên 炎天: mượn chỉ mùa hạ, nhân vì khí trời nóng bức, cũng mượn chỉ phương nam.

Lệ hạc đề viên 唳鶴啼猿: tức “hạc lệ viên đề” 鶴唳猿啼 hạc kêu vượn hú.

Thương hải 滄海桑田: điển xuất từ thành ngữ “thương hải tang điền” 滄海桑田biển xanh hoá thành ruộng dâu, ví sự biển đổi to lớn trên đời. Thành ngữ “thương hải tang điền” xuất xứ từ Thần tiên truyện 神仙传, quyển 3:

          Vương Viễn 王远 tự Phương Bình 方平 vào ngày mồng 7 tháng 7 cùng nhiều người theo tiên nhân giáng xuống nhà Thái Kinh 蔡经, sau khi gặp cha mẹ cùng anh em của Thái Kinh, liền phái sứ giả đi mời tiên nữ Ma Cô 麻姑, mọi người đều không biết Ma Cô là vị thần tiên nào. Chẳng mấy chốc, sứ giả trở về, nói với Vương Viễn rằng:

          - Ma Cô hai ba lần bái tạ bảo rằng, gần đây không gặp, chẳng mấy chốc mà đã hơn 500 năm trôi qua rồi. Vốn định cùng sứ giả đến tương kiến, nhưng do có việc cấp trên sai đến Bồng Lai 蓬莱 xử lí nên ở lại, sẽ đến gặp ông sau. Xin ông chớ có vội rời nơi đây.

          Chưa tới hai tiếng đồng hồ, tiên nữ Ma Cô đến. Trước khi đến, mọi người nghe thấy tiếng người tiếng ngựa rộn rịp, tiên nhân tuỳ tùng theo Ma Cô đến ước khoảng một nửa của tuỳ tùng Vương Viễn. Khi Ma Cô đến, cả nhà Thái Kinh đều trông thấy.

          Ma Cô là một vị tiên nữ xinh đẹp, tuổi chừng 18, 19, trên đầu búi một búi tóc, còn lại thả dài đến eo. Y phục của Ma Cô có hoa văn tươi đẹp, khó mà miêu tả lại, lụa là trên thế gian không thể sánh lại. Ma Cô bước vào cửa bái kiến Vương Viễn, Vương Viễn lập tức đứng dậy đáp lễ. Hai người sau khi vào chỗ ngồi, li vàng chén ngọc được mang ra, rất nhiều các loại hoa quả, hương thơm bay khắp cả trong và ngoài phòng. Mùi thơm của thịt khô dường như dùng gỗ cây tùng cây bá để nướng, theo lời kể đó là thịt kì lân khô. Ma Cô nói rằng:

          - Từ khi tôi thành tiên đến nay, đã thấy biển đông ba lần biến thành ruộng dâu. Tôi vừa mới đến Bồng Lai lại thấy biển đông cạn hơn năm ngoái, sâu bằng một nửa trước đây, lẽ nào lại sắp biến thành đất liền sao?

          Vương Viễn cười đáp rằng:

          - Thánh nhân đều nói, đường đi trong biển lại sắp nổi bụi rồi.

https://baike.baidu.com/item/%E6%A1%91%E7%94%B0%E6%B2%A7%E6%B5%B7

Cửu cức tam hoè 九棘三槐: quan lại nói chung.

          Ngày xưa gọi ba quan công chín quan khanh là “tam hoè cửu cức” 三槐九棘, vì thế đời sau mới gọi các quan to là “cức” , như “cức khanh” 棘卿 quan khanh; “cức thự” 棘署dinh quan khanh. (Theo “Hán Việt tự điển” của Thiều Chửu.)

Khảm kha 坎坷: gập ghềnh, lận đận.

Lê nguyên 黎元: Tức bách tính, dân chúng. Điển xuất từ trong Xuân Thu phồn lộ 春秋繁露 của Đổng Trọng Thư 董仲舒đời Hán:

Cứu chi giả, tỉnh cung thất, khứ điêu văn, cử hiếu đễ, tuất lê nguyên.

救之者, 省宮室, 去雕文, 舉孝悌 恤黎元

(Cách để cứu giúp đó là giảm bớt cung thất, bỏ đi những chạm khắc rườm rà, tuyển chọn tiến cử những người hiếu đễ, chu cấp cho dân nghèo khổ)

Sa đà 蹉跎: lần lữa, cũng đọc là “tha đà”.

 

Previous Post Next Post