昏黄慢慢斜暉
復信梅箋在手
眼看何說不知
昔越分明兩字
去來據意而推
廿一戌时是否
Hôn
hoàng mạn mạn tà huy
Phục
tín mai tiên tại thủ
Nhãn
khan hà thuyết bất tri
“Tích
việt” phân minh lưỡng tự
Khứ
lai cứ ý nhi suy
Nhập nhất tuất thì thị phủ?
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 03/4/2025
Tạm dịch
từ sáu câu trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
Trời
tây lãng đãng bóng vàng
Phục
thư đã thấy tin chàng đến nơi
Mở
xem một bức tiên mai,
Rành
rành tích việt có hai chữ đề.
Lấy
trong ý tứ mà suy
Ngày
hai mươi mốt, tuất thì phải chăng?
(câu
1085 – 1090)
( “Từ điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh)
Bản dịch
sang Trung văn của Hoàng Dật Cầu 黄軼球
信去后, 当天落日昏黄,
接到回书, 果然不爽.
开緘一幅梅箋,
分明 “昔越” 兩字, 題在箋上.
反复参詳字义,
“廿一日戌时走”, 拆字文义相当.
Tín
khứ hậu, đương thiên lạc nhật hôn hoàng,
Tiếp
đáo hồi thư, quả nhiên bất sảng.
Khai
giam nhất phúc mai tiên,
Phân
minh “tích việt” lưỡng tự, đề tại tiên thượng.
Phản
phục tham tường tự nghĩa,
“Nhập
nhất nhật tuất thì tẩu”, sách tự văn nghĩa tương đương.
(In tại nhà in Nhật Báo Giải phóng, 1976)
Hôn hoàng 昏黄: Tức hoàng hôn.
Trong bài Cổ tùng quân 古从军của Lí Kì 李颀đời Đường có câu:
Bạch nhật đăng sơn vọng phong
hoả
Hôn hoàng ấm mã bạng Giao Hà
白日登山望烽火
昏黄饮马傍交河
(Ban ngày lên núi quan sát
phong hoả đài
Hoàng hôn dắt ngựa cho uống nước
tựa bên thành cổ Giao Hà)
Vương Quán 王观đời Tống
trong bài từ theo điệu Lâm giang tiên 临江仙cũng đã
viết:
Yến tử quy lai nhân khứ dã
Thử thời vô nại hôn hoàng
燕子归来人去也
此时无奈昏黄
(Chim én bay về nhưng người đã
đi mất
Lúc này là hoàng hôn không biết
phải làm sao)
“Truyện Kiều” câu 1268, Nguyễn Du cũng đã viết:
Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn
hoàng
(“Truyện Kiều” 1267 – 1368)
Mai tiên 梅箋: “tiên” 箋giấy hoa tiên, một loại giấy thường dùng để viết thư, cho nên thư từ nói
chung là “tiên”. “Mai tiên” 梅箋 giấy hoa tiên có vẽ cành mai.
Tích việt 昔: theo phép chiết tự, chữ 昔 (tích) tách ra sẽ là 卄 (nhập), 一 (nhất) 日 (nhật); chữ 越 (việt) tách ra sẽ 走 (tẩu) và 戉 (việt). Chữ 戉 (việt) tự dạng giống chữ 戌 (tuất), mượn để chỉ giờ tuất. “Tích việt” 昔越 ý là hẹn vào giờ tuất ngày 21 sẽ trốn chạy.
Thị phủ 是否: phải
chăng?