脩 (TU) VÀ 修 (TU) BẤT TẬN TƯƠNG ĐỒNG
Bàn về chữ “tu” 脩
(tiếp theo)
修 (tu) là trang sức, 脩 (tu) là thịt khô, trong kiểu chữ lệ đời Hán
đã hỗ tương thông dụng. Như 修长 (tu trường: thon dài) cũng có thể viết là 脩长, phòng
ốc “tăng tu” 增修 (tu bổ thêm), cũng có thể viết là 增脩 (xem Hán thư - Thực hoá
chí 汉书 - 食货志).
Đến năm 1955 (bảng
chỉnh lí nhóm chữ dị thể lần đầu), đã đem chữ 脩 tinh giản lại, 修长 (tu
trường) không thể viết là 脩长được nữa. Nhưng ở tình huống cá biệt cũng có
ngoại lệ. Như Âu Dương Tu Văn 欧阳脩 học gia đời Bắc Tống, trong “Từ Hải” 辞海viết
là 欧阳修 (1), nhưng trong “Từ nguyên” 辞源viết
là 欧阳脩 (2). Đoán rằng, “Từ nguyên” căn cứ vào nguyên tắc
“danh tùng chủ nhân” 名从主人(tên theo chủ nhân), đã đã lưu cách viết vốn
có của người xưa, còn “Từ hải” thì căn cứ vào bảng chỉnh lí chữ dị thể,
cũng là căn cứ vào cách viết thông thường của mọi người mà định ra.
Vả lại, sau khi 修 (tu) tổ thành từ do song âm hợp thành như 修改 (tu cải)
修业 (tu
nghiệp), ý nghĩa cổ kim cũng khác nhau. Nghĩa cổ của từ “tu cải” 修改là tu sửa
sai lầm, như Chu Xứ 周处 đã viết:
Dục tự tu cải, nhi niên dĩ
sa đà.
欲自修改而年已蹉跎
(Muốn tự sửa đổi lỗi lầm mà
năm tháng cứ trôi qua vô ích.)
Ở đây khác với Hán ngữ hiện đại, “tu cải” 修改trong
“tu cải văn chương” 修改文章 (sửa chữa văn chương).
Nghĩa cổ của từ “tu nghiệp” 修业 mở rộng, khuếch đại sự nghiệp,
khác với nghĩa “tiến tu học nghiệp” 进修学业 (“tu nghiệp” 修业 ở đây là thời gian học tập tại
trường) trong Hán ngữ hiện đại. Như trong “Dịch – Càn” 易
- 乾có câu:
Quân tử tiến đức tu nghiệp.
君子进德修业
(Quân tử luôn tăng tiến phẩm
đức, khuếch đại sự nghiệp)
“Tu nghiệp” 修业ở đây
chính là mở rộng, khuếch đại sự nghiệp.
(hết)
Chú của
nguyên tác
1-Từ hải 辞海 (hạ)
trang 3489, Thượng Hải từ thư xuấ bản xã.
2-Từ nguyên 辞源 (nhị), trang 650, Thương vụ ấn thư quán.
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 01/4/2025
Nguyên tác Trung văn
“TU” “TU” BẤT TẬN TƯƠNG ĐỒNG
ĐÀM “TU”
“脩” “修”不尽相同
谈 “脩”
Trong quyển
HÁN TỰ THẬP THÚ
汉字拾趣
Tác giả: KỶ ĐỨC DỤ (纪德裕)
Phục Đán Đại học xuất bản xã,
1998