南鄉子
聳立坵邊
朱夏火紅點木棉
鐘響長空天已暮
歸鷺
楊柳斜暉垂古渡
NAM HƯƠNG TỬ
Tủng lập khâu biên
Chu hạ hoả hồng điểm mộc miên
Chung hưởng trường không thiên
dĩ mộ
Quy lộ
Dương liễu tà huy thuỳ cổ độ
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 29/3/2025
Tủng lập 聳立: đứng vươn cao sừng sững.
Khâu biên 坵邊: bên gò. “Khâu” 坵 là cái gò, cũng viết là 丘 .
Chu
hạ 朱夏: biệt
xưng của mùa hạ. Cũng theo
thuyết ngũ hành thời cổ, hạ thuộc hoả, với ngũ sắc thì hạ thuộc xích”, “xích” 赤là đỏ, “chu” 朱cũng có nghĩa là đỏ”, cho nên
mùa hạ gọi là “chu hạ” 朱夏.
Thâm
hồng 深紅: màu đỏ
thắm.
Mộc miên 木棉: tức hoa gạo. Hoa gạo nở vào mùa hạ, sắc đỏ thắm. Ngoài “mộc miên” ra, hoa gạo còn có nhiều biệt danh khác như “thích đồng” 剌桐, ban chi 斑芝, phàn chi 攀枝, cát bối 吉貝, phong hoả 烽火 ....
Chung
hưởng 鐘響: tiếng
chuông ngân vang.
Mộ
暮: xế
chiều.
Lộ
鷺: con cò trắng. “Quy lộ” 歸鷺: đàn cò trắng bay về.
Tà
huy 斜暉: ánh
nắng chiều.
Cổ
độ 古渡: bến
đò xưa.
Trong “Cung oán ngâm khúc” của
Nguyễn Gia Thiều (Việt Nam) có câu:
Cầu thệ
thuỷ ngồi trơ cổ độ
Quán
thu phong đứng rũ tà huy
(câu 97 - 98)
Tạm dịch
Đứng sừng
sững bên gò,
Hoa gạo
thắp lửa hồng mùa hạ.
Trời xế
chiều, tiếng chuông ngân vang trong khoảng không.
Đàn cò
trắng bay về,
Hàng
dương rủ bóng trong nắng chiều bên bến đò xưa.