Câu đối: Tố thu đạm vị hương kim túc (HCH)

 

素秋淡味香金粟

朱夏深紅色木

Tố thu đạm vị hương kim túc

Chu hạ thâm hồng sắc mộc miên

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 29/3/2025

Tố thu 素秋: biệt xưng của mùa thu. Theo thuyết ngũ hành thời cổ, thu thuộc kim, cho nên mùa thu gọi là “kim thiên” 金天, cũng gọi là “kim thu” 金秋, “kim tố” 金素. Với ngũ sắc thì thu thuộc bạch, “bạch” là trắng, “tố” cũng có nghĩa là trắng. Lí Thiện 李善nói rằng:

Kim tố, thu dã. Thu vi kim nhi sắc bạch, cố viết kim tố dã.

金素, 秋也. 秋為金而色白, 故曰金素也.

(Mùa thu là kim mà sắc trắng, cho nên gọi là “kim tố”)

nên mùa thu cũng gọi là “tố thu” 素秋.

Đạm vị 淡味: mùi thơm thoang thoảng.

          Vị : có hai nghĩa cơ bản.

-Cảm giác mà đầu lưỡi cảm nhận được khi nếm một thứ gì đó, như “vị giác”, “vị đạo” 味道, “tư vị” 滋味.

          -Cảm giác mà mũi cảm nhận được khi ngửi một thứ gì đó, như “hương vị” 香味, “khí vị” 氣味.

Kim túc 金粟: biệt xưng của hoa quế. Hoa quế nở vào mùa thu, khi nở nhìn từ xa thấy lấm tấm như những hạt thóc vàng nên có tên như thế.

Chu hạ 朱夏: biệt xưng của mùa hạ. Cũng theo thuyết ngũ hành thời cổ, hạ thuộc hoả, với ngũ sắc thì hạ thuộc xích”, “xích” là đỏ, “chu” cũng có nghĩa là đỏ”, cho nên mùa hạ gọi là “chu hạ” 朱夏.

Thâm hồng 深紅: màu đỏ thắm.

Mộc miên : tức hoa gạo. Hoa gạo nở vào mùa hạ, sắc đỏ thắm. Ngoài “mộc miên” ra, hoa gạo còn có nhiều biệt danh khác như “thích đồng” 剌桐, ban chi 斑芝, phàn chi 攀枝, cát bối 吉貝, phong hoả 烽火 ....

Previous Post Next Post